“Hiện tượng ngôn ngữ nào cũng có đời sống và có giá trị giao tiếp riêng, nếu phù hợp với đời sống thì cần phải chấp nhận việc mở rộng vốn tiếng Việt một cách nhất định”.
Đó là khẳng định của PGS.TS Phạm Văn Tình (Viện Từ điển và Bách khoa thư) trong buổi hội thảo mang tên “Ngôn ngữ giới trẻ thời @” thông qua hiện tượng cuốn sách tranh “Sát thủ đầu mưng mủ” được tổ chức vào ngày 29/3 tại Trung tâm văn hóa Pháp (L’espace).
Cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ” do Công ty Nhã Nam và NXB Mỹ thuật phát hành tháng 10-2011 đã gây ra phản ứng đa chiều trong công luận, khiến NXB này quyết định thu hồi cuốn sách và sau đó bản quyền tác phẩm đã được chuyển nhượng cho Indochine Media Inc – một công ty truyền thông có trụ sở tại Milpitas, California, Mỹ.
Thời nào cũng có loại “ngôn ngữ @”
“Về bản chất, ngôn ngữ @ của giới trẻ hiện nay chính là loại “tiếng lóng” mà thời nào cũng xuất hiện, có chăng thời nay, chúng ta gọi đó là ngôn ngữ @ mà thôi” – nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên nhấn mạnh.
Theo ông, thời nào cũng có loại “ngôn ngữ @”, bởi mỗi thế hệ thanh niên lại sáng tạo thêm, mở rộng thêm vốn yếu tố tiếng Việt hiện có. Họ sáng tạo ra những loại ký hiệu, ngôn ngữ để trao đổi với nhau, thậm chí để truyền tải lượng thông tin nhiều nhất với số ký tự ít nhất, hoặc đơn giản, để thể hiện sức tưởng tượng phong phú của mình.
Có thể nói “Tiếng lóng” là một thực tế đầy sinh động mà hầu như bất kỳ ngôn ngữ nào trên trái đất đều có, dù muốn hay không. Chính đại văn hào người Pháp Victor Hugo đã từng sử dụng tiếng lóng trong tác phẩm Ngày cuối cùng của tử tù, thậm chí còn dành hẳn cả quyển VII trong phần thứ 4 của bộ tiểu thuyết đồ sộ Những người khốn khổ để bàn luận về tiếng lóng. Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (Hà Nội, 1992) đã cắt nghĩa, đó là “Cách nói một ngôn ngữ riêng trong một tầng lớp hoặc một nhóm người nào đó, nhằm chỉ để cho nội bộ hiểu được với nhau mà thôi”.
Đó chính là cách hiểu đúng nhất về ngôn ngữ @ – thứ ngôn ngữ mà giới trẻ thời đại Internet sáng tạo ra để sử dụng “nội bộ”. PGS. TS Phạm Văn Tình chia sẻ: “Chỉ cách đây khoảng 10 năm, giới trẻ nói chuyện thường thêm yếu tố “hơi bị” vào câu nói, đó cũng là một cách sáng tạo và thể hiện cá tính riêng của họ”. Tiếng lóng có sức sống riêng và đôi lúc có ảnh hưởng tới cả văn học, để chứng minh, ông đưa ra bài thơ “Chạnh lòng 1” và “Chạnh lòng 2” của nhà thơ Nguyễn Duy:
Giọt rơi hơi bị trong veo
Mắt đi hơi bị vòng vèo lôi thôi
Chân mây hơi bị cuối trời
Em hơi bị đẹp, anh hơi bị nhàu
Ngu ngơ hơi bị ấm đầu
Mù mờ hơi bị ngu lâu tàn đời
Thần kinh hơi bị rối bời
Người hơi bị ngợm, ta hơi bị người
Nếu giới trẻ của 10 năm trước không sáng tạo ra từ “hơi bị”, chắc hẳn nhà thơ Nguyễn Duy cũng không thể có được hai bài thơ “Chạnh lòng” trên. Ngoài trường hợp của “hơi bị”, ngôn ngữ tiếng Việt còn chứng kiến nhiều tiếng lóng khác được chấp nhận và gia nhập vào vốn từ ngữ chung như ba hoa, lộ tẩy, cổ lỗ sĩ, phe phẩy …
Từ trái sang: họa sĩ Thành Phong, PGS Văn Như Cương, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên và PGS. TS Phạm Văn Tình
Theo PGS. TS Phạm Văn Tình, việc giới trẻ sáng tạo và sử dụng hệ thống tiếng lóng ngoài chuẩn là hiện tượng bình thường của xã hội, bởi theo ông, chuẩn ngôn ngữ Việt không có nghĩa là “nhất thành bất biến” mà hoàn toàn có thể mở rộng tùy điều kiện, hoàn cảnh và sự phù hợp của loại ngôn ngữ mới. Ông cho rằng: “Giới trẻ nhiều tham vọng, nhiều cách thể hiện mình. Họ có những sáng tạo, phá cách, trong đó có lời ăn tiếng nói. Sự bồng bột là có nhưng sự nghiêm túc không phải là không. Tôi nghĩ chúng ta cần phải lắng nghe tiếng nói của họ, có thế chúng ta mới có thể cùng nhau hướng tới một tiếng nói chung của ngôn ngữ toàn dân”.
Nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc đã từng nói: “Trên đời thực chất không có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi”, ngôn ngữ cũng vậy. Đầu tiên ngôn ngữ không có chuẩn, sau này dựa vào việc con người sử dụng nhiều hay ít và cách thức họ sử dụng nó ra sao đã trở thành một hệ “chuẩn”. Nhưng ngôn ngữ không cố định mà có sự vận động, biến đổi và thu nạp các yếu tố mới mẻ và phù hợp, từ đó giới hạn “chuẩn” được mở rộng hơn.
Năm 2011 vừa qua, Nhà xuất bản Đại học Oxford tiếp tục thêm 1.900 từ mới vào cuốn từ điển tiếng Anh cầm tay Oxford nhằm kịp thời phản ánh cuộc sống hiện đại. Hầu hết những từ mới này đều là tiếng lóng, thường được sử dụng trong lĩnh vực thời trang, công nghệ thông tin hay ngôn ngữ được thế hệ trẻ sử dụng phổ biến qua thư điện tử, chat yahoo hay tin nhắn điện thoại để diễn tả cảm xúc của mình.
Ở Việt Nam, năm 2000, Viện Ngôn ngữ học đã cho công bố cuốn Từ điển từ mới tiếng Việt, thống kê hơn 2.000 từ mới xuất hiện trong giao tiếp tiếng Việt trong khoảng thời gian 15 năm (1985 – 2000). Như vậy, do đòi hỏi xuất phát từ hiện thực cuộc sống, các từ ngữ mới, các lối nói mới đã xuất hiện.
Nói như vậy, nhưng không phải từ mới nào xuất hiện là được chấp nhận ngay và không có nghĩa tất cả các tiếng lóng đều lành mạnh và được chấp nhận rộng rãi, thậm chí đưa vào thơ ca, văn học.
Hiện tượng “Sát thủ đầu mưng mủ”
Những “thành ngữ hiện đại” được họa sĩ Thành Phong chuyển tải tới độc giả qua hình thức tranh vẽ là một phần của hiện tượng tiếng lóng thời nay. Khi nhìn nhận cuốn sách này, PGS Văn Như Cương, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên và PGS. TS Phạm Văn Tình đều cho rằng bản thân cuốn sách không sai, nhưng không phải câu nào cũng có ý nghĩa tích cực.
Cá nhân PGS Văn Như Cương rất thích câu “Cái khó ló cái ngu” của giới trẻ hiện nay. Ông cho rằng, thành ngữ cũng có các giai đoạn phát triển của nó, và ở mỗi giai đoạn, thành ngữ cũng được thêm hoặc bớt các thành tố để phù hợp với điều kiện hiện tại. PGS chia sẻ, thời xưa khi khó khăn, muốn làm giàu mà không có vốn thì mãi mãi không giàu, gọi là ‘cái khó bó cái khôn’. Trong kháng chiến, ở tình thế khó khăn thì phải sáng tạo, lúc ấy ‘cái khó ló cái khôn’. Còn bây giờ cứ khó mãi, đói mãi thì làm sao khôn lên được, rõ ràng là ‘cái khó ló cái ngu”. Đây không phải lần đầu tiên thành ngữ Việt Nam có sự cải biến, trước đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cải biến câu “Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau” thành “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” và ngày nay, câu thành ngữ cải biến đó được sử dụng hết sức rộng rãi.
Từ hiện tượng “Sát thủ đầu mưng mủ”, các cơ quan báo chí, truyền thông, các cơ quan có trách nhiệm đã mở rộng lên, lo sợ sự ảnh hưởng thiếu lành mạnh của cuốn sách tranh này đối với việc “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Theo PGS. TS Phạm Văn Tình, nếu đúng nghĩa của từ “trong sáng”, thì tiếng Việt của chúng ta hoàn toàn không hề trong sáng, bởi tiếng Việt hiện nay có đến 60% từ mang yếu tố Hán, ngoài ra có rất nhiều từ mang yếu tố Pháp.
Không thể khẳng định khi cuốn sách tranh “Sát thủ đầu mưng mủ” được xuất bản, nó sẽ ngay lập tức ảnh hưởng tới sự tiếp thu của giới trẻ, bởi những thành ngữ hiện đại ấy đã xuất hiện và tồn tại rất lâu trước khi được minh họa bằng các hình vẽ. Giới trẻ đã sử dụng chúng để giao tiếp và trao đổi thông tin lẫn nhau bằng cách của họ và nhận thức của họ.
Nói như vậy, không có nghĩa là cuốn sách tranh “vô tội”, bởi những tiếng lóng này, dù đã tồn tại rất lâu trong cộng đồng của những người trẻ, nhưng chưa được công nhận chính thức. Việc in thành sách và xuất bản chúng ra với công chúng một cách rộng rãi sẽ khiến nhiều người lầm tưởng rằng chúng ta cổ súy cho những ngôn ngữ ngoài chuẩn. PGS Văn Như Cương khẳng định, với hình thức ngôn ngữ mới của giới trẻ, chúng ta không được tung hô quá, cũng nhưng càng không thể phủ nhận nó.
Không phải sản phẩm trí tuệ dân gian nào cũng được chấp nhận mà tự nó sẽ có quy luật đào thải, chọn lọc tự nhiên, cần bình tĩnh xem xét hiện tượng ngôn ngữ này. Bởi ngôn ngữ nào cũng có đời sống riêng của nó, nên bình tĩnh nhận định, xem xét để thấy được hạt nhân chân lý của ngôn ngữ, từ đó sẽ cân nhắc việc có nên mở rộng vốn tiếng Việt thể thu nhận nó và hệ chuẩn hay không.
Bản thân ông rất hứng thú với cuốn sách “Sát thủ đầu mưng mủ” do họa sĩ Thành Phong vẽ minh họa. Ông cho rằng đó là kết quả của sự sáng tạo tuyệt vời của giới trẻ, nhiều câu đã khiến ông suy nghĩ sâu sắc và rất khâm phục sự sáng tạo của người trẻ. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, sáng tạo là vô biên nhưng cần cân nhắc cái nên và không nên. Từ lóng, thành ngữ hiện đại nếu được sử dụng trong đúng hoàn cảnh, thời điểm sẽ phát huy giá trị rất lớn. Nhưng ngược lại, nếu sử dụng vô tội vạ sẽ mang lại kết quả rất tiêu cực, thậm chí sẽ làm thoái hóa tiếng Việt.
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không phải là khư khư không thay đổi, không chịu mở rộng mà là ý thức tôn trọng ngôn ngữ của Việt Nam, không thể “vì một cuốn sách mà giới trẻ nói bậy hơn”. Bởi không có ngôn ngữ xấu, mà xấu hay tốt phụ thuộc vào người sử dụng chúng.
Vương Tâm







